TÔI LÀ AI ? TRONG MÙA PHỤC SINH

 

TÔI LÀ AI ?  TRONG MÙA PHỤC SINH

 

“Tôi là ai? Tôi là ai? mà còn trần gian thế, tôi là ai mà  yêu quá cuộc đời này”. Trích trong Tôi ơi đừng tuyệt vọng, ca từ của tác giả họ Trịnh cứ vang dội trong tôi, âm ỉ, réo rắc cả lúc tỉnh lẫn lúc say, cả ngày lẫn đêm.

Cái gì là điều bí ẩn vĩ đại nhất của tôi là ai? Sống để làm gì mà yêu quá cuộc đời này? Có lẽ tôi phải biết tôi là ai, tôi mới biết sống để làm gì , Có lẽ  phải biết cuộc sống , có lẽ phải biết tình yêu và phải biết cả cái chết, mới biết được tôi là ai. 

Mầu nhiệm Phục sinh về căn bản liên quan tới cái chết. Cái chết chứa tất cả: cái chết chứa cuộc sống, cái chết chứa tình yêu, và cái gì đó còn hơn thế, mà cả cuộc sống không chứa được nó mà tình yêu cũng không thể chứa được. Cái chết là việc tích lũy của tất cả, là cao trào, là đỉnh cao nhất. Cuộc sống là cơ sở, cái chết là đỉnh cao, tình yêu nằm đâu đó ở giữa. 

Cuộc sống là hữu hạn, nhất thời. Khoảnh khắc này nó có đó, khoảnh khắc tiếp nó mất rồi. Nó là làn gió thoảng, tới rồi đi, hoa nỡ để rồi tàn, trăng tròn để rồi khuyết, người gặp để rồi chia ly, nó không tồn tại lâu.

 


Yêu là ở chặng giữa. Nó ở đích xác giữa sống và chết. Nó ở giữa thiên đàng và địa ngục, giữa hạnh phúc và bất hạnh. Do đó nhân loại luôn sợ hãi nó vì nó thuộc về  chủ đề :“ nguy hiểm”,  “trái cấm”, “chết chắc” nhưng luôn nói nhiều về nó qua bao thế kỷ. Chừng nào ta còn chưa sẵn sàng chết, ta không thể biết yêu được, mặc dầu bằng việc chết ta trở nên sống động hơn. Chính là qua cái chết mà tình yêu biến đổi phận người.


Tình yêu còn bí ẩn nhiều hơn là bản thân cuộc sống, bởi vì nó có cuộc sống trong nó và có cái gì đó còn hơn nữa: sống cộng với chết. Năm mươi phần trăm của tình yêu là cuộc sống, năm mươi phần trăm là cái chết. Và chỉ những người sẵn sàng chết mới biết cuộc sống của tình yêu. Những người sợ chết sẽ không bao giờ đi vào được bí ẩn của tình yêu. 

Nghệ thuật làm bùng nổ thế giới của tình yêu. Do đó nghệ thuật còn đúng hơn là khoa học, đi sâu hơn triết học. Tầm nhìn của nghệ sĩ hàm chứa nhiều hơn tri thức khoa học, triết học có thể hàm chứa, mặc dầu cách thức của nghệ thuật là hoàn toàn khác với cách thức của khoa học. Nó phải khác chứ. Khoa học có thể mang tính khách quan bởi vì nó là ngoại vi. Nghệ thuật không thể tuyệt đối khách quan được; nó năm mươi phần trăm khách quan, năm mươi phần trăm chủ quan. Nó không thể tự do với người quan sát được. 



Khoa học cố gắng tuyệt đối tự do với người quan sát; người quan sát phải không đi vào trong nó, phải không tham gia, phải vẫn còn tuyệt đối trung lập, không là người tham gia, mà là khán giả. Người đó phải không được đem bản thân mình vào trong nó. Đó là cái nhìn khoa học. 

Khi nhà khoa học nhìn vào hoa ông ấy cố gắng chỉ là người quan sát. Ông ấy đơn giản ghi chép, phân tích và luôn hỏi tại sao? về điều ông ấy thấy; ông ấy không đem mơ của mình vào, không  hóa thân mình vào việc quan sát. Nhà thơ có nhiều tự do hơn, hoạ sĩ có nhiều tự do hơn. Họ đi sâu hơn vào trong hiện tượng hoa này. Họ tham gia vào bí ẩn của nó, họ không tách rời; trong vài khoảnh khắc họ trở thành một với nó. Có những khoảnh khắc mà nhà thơ nhảy múa cùng hoa trong gió, trong mưa, trong ánh mặt trời. Có những khoảnh khắc mà nhà thơ trở thành hoa, khi người quan sát là vật được quan sát. Có những khoảnh khắc khi nhà thơ không chỉ nhìn vào hoa mà nhìn qua hoa, và trở thành đôi mắt của hoa. Một cách tự nhiên, họ chìm sâu hơn khoa học; họ đem tới hoa trái lớn hơn nhiều. 

Thơ ca, hội hoạ, điêu khắc, âm nhạc, chúng tới gần với cuộc sống hơn, gần với thực tại hơn bởi vì trong Chân, Thiện, Mỹ thì cái Mỹ  có lẽ là cái sẵn sàng nhất để tham gia, hội nhập và biến đổi phận người. Còn  khoa học và triết học thì rất tốt ở một khía cạnh nào đó nhưng phải qua nhiều rào chắn của nội quy, của kỷ luật, của trí não. Còn nghệ thuật thì không chỉ có trái tim yêu thương “sống trong đời sống, cần có một tấm lòng để làm gì? Em biết không?  để gió cuốn đi ”.




Người nghệ sỹ, cố gắng thám hiểm bí ẩn này của cái chết. Trong việc thám hiểm bí ẩn của cái chết, người đó đi tới biết tôi là ai, cuộc sống là gì, tình yêu là gì. Những điều đó không phải là mục đích của người đó. Mục đích của người đó là xuyên thấu vào cái chết, bởi vì dường như chẳng có gì bí ẩn hơn cái chết. Tình yêu có bí ẩn nào đó bởi vì cái chết và cuộc sống cũng có bí ẩn nào đó bởi vì cái chết. 





Chúng ta dựa trên việc tìm kiếm vào cái chết, và hiểu cái chết là hiểu tất cả. Kinh nghiệm cái chết là kinh nghiệm tất cả, bởi vì trong kinh nghiệm về cái chết, ta không chỉ kinh nghiệm cuộc sống ở chổ cao nhất của nó, tình yêu ở chổ sâu nhất của nó; trong việc kinh nghiệm cái chết ta đi vào trong điều thiêng liêng. Cái chết là cánh cửa đi tới điều thiêng liêng. Cái chết là tên của cánh cửa, của cổng thiên đường, nơi ở của Thánh Peter. Người dám yêu sẽ chết đi một cách tự nguyện. 

Có hai loại cái chết:

 Một là cái chết bình thường; mọi người đều phải chết. Đó không phải là cái chết của tình yêu. Cái chết đó thường xảy ra ngược với ý của ta; ta đi vào trong nó một cách rất ngần ngại. Ta không muốn đi vào trong nó, ta níu bám lấy cuộc sống. Ta không trở thành sẵn có cho nó, ta không trở thành cởi mở cho nó. Do đó ta luôn luôn đau khổ, lo âu, buồn bã, và bất an. Con người không ai thoát khỏi sinh tử, nhưng mỗi lần họ chết lại có nhiều điều bị ám ảnh với cuộc sống tới mức họ không thể thấy được cái chết là gì. Mắt họ bị hội tụ vào cuộc sống, họ níu bám lấy cuộc sống.

 Hai là  cái chết một cách tự nguyện. Người dám yêu chết trước cái chết thực; Người yêu đã  chết mỗi ngày trong tâm. Người yêu biết chút ít về nó bởi vì năm mươi phần trăm của tình yêu là cái chết. Đó là lí do tại sao tình yêu rất gần với Thiên Chúa. Người yêu biết cái gì đó là món quà của Thiên Chúa . Người yêu biết im lặng, tĩnh lặng, và xin vâng.

 


Trên thập giá, Người đi vào trong nó một cách rất có ý thức, một cách có chủ định. Yêu là cái chết toàn bộ, cái chết tự nguyện. Người  chết trong bản thân mình. Trước khi cái chết tới, người đã chết. Ta chết mọi ngày. bất kì khi nào ta yêu ta đều đi vào cái chết. Vì Người đến thế gian chi dạy một giới luật duy nhất, trên tất cả mọi giới luật đó là “ YÊU ”. Mà người Do Thái thì sống theo Lề Luật, nhưng luật lệ thì chỉ sống theo lý trí không theo lý lẽ của con tim. Nên họ tìm mọi cách bắt Người phải chết đi. Nếu Người không chết họ phải chết. Vì sợ Người đến để phá  tất cả mọi lề luật từ thời ông Môise, các kinh sư, thầy tế lễ thượng phẫm và các nhà thần học lỗi lạc, điều bám vào lề luật để sống .

 

 

 

Nghệ sỹ Giêsu là người duy nhất  đạt tới những đỉnh cao đó, những chiều sâu đó, và dần dần, khi yêu trở thành tự nhiên, Người bắt đầu sống cái chết. Thế thì từng khoảnh khắc cuộc sống của Người  cũng là khoảnh khắc của cái chết. Giống như thở ra là chết, hít vào là sống. Người trước khi chết thường trút hơi thở ra cuối cùng, Các hài nhi mới sanh thường khóc và hít vào hơi thở đầu tiên. Và mỗi chúng ta điều phải thở ra, hít vào mỗi giây. Từng khoảnh khắc Người chết đi quá khứ và vẫn còn tươi tắn, bởi vì khoảnh khắc Người chết đi quá khứ thì Người trở thành sống động cho hiện tại. 



Người liên tục chết đi và vẫn còn tươi tắn như giọt sương hay như lá Osaka vào buổi sáng sớm mặt trời mọc. Sự tươi tắn của Người, sự trẻ trung ấy, vô thời gian ấy, tuỳ thuộc vào nghệ thuật chết. Và thế thì khi cái chết thực tới Người chẳng có gì để sợ, bởi vì Người đã biết cái chết này cả nghìn lần rồi. Người xúc động, say mê; Người muốn chết một cách hân hoan. Cái chết không tạo ra sợ hãi trong Người, ngược lại, Người nói : “Xin  Cha tha tội cho họ, vì họ không biết việc họ làm”  đã tạo ra sự hấp dẫn vô cùng, sức hút lớn lao, cho các mùa Phục Sinh bây giờ và mãi mãi. 

                                                  Hạt Muối

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bình Luận