MỘT SỰ THIẾU THỐN TRIỆT ĐỂ VÀ LẠ LÙNG

 

Hiện diện và cô đơn, là hai mặt không tách rời nhau được của mầu nhiệm con người mà không bên nào có thể tự đủ cho mình cả.

 Tính nhị nguyên bên này là một biểu hiện cần thiết của cơ cấu hữu thể học của con người; như chúng ta đã thấy, nhịp điệu của hai mặt này là tự ra khỏi mình và trở lại nơi mình. Nhưng nó cũng là một dấu hiệu của bi kịch hiện sinh của con người nữa. Con người là một hữu thể lạ lùng, luôn luôn khắc khoải, không tìm được bình an trong cô đơn, nơi mà lo âu xâm chiếm họ, và cũng không tìm được bình yên trong sự hiện diện với tha nhân nữa, vì nó mau chóng làm họ thất vọng và không làm họ thỏa mãn. Họ không tìm được nơi bản thân hoặc nơi kẻ khác sự viên mãn mà họ tìm kiếm.

 Bi kịch này không phải là một bất trắc trên đường đời, nhưng nó biểu hiện một cảm giác thiếu triệt để là một tiếng gọi nơi sâu thẳm của Đấng tuyệt đối, cảm giác thiếu hữu thể học, khiến họ liên lỉ tìm kiếm, khi thì trong cô đơn, khi thì trong tương quan; một sự nghỉ ngơi, một hạnh phúc bao giờ cũng vượt khỏi tay họ. Vì cô tịch hoàn toàn đỏi hỏi một sự sung mãn, một sự tự mình đủ cho mình, mà con người không thể có! Và tương quan cũng không thể lấp đầy hơn nữa ước muốn tuyệt đối của họ mà người khác không có! Aristote đã tiên cảm rằng cô tịch chỉ có thể là một diễm phúc cho thần linh, vốn là sung mãn, tự đủ cho mình mà thôi.

 Chính nơi điểm này mà mạc khải Do Thái Kitô giáo mang đến một sự soi sáng quyết định trên điều khó hiểu này của con người.

 Quả thật bản thân Đức Kitô tự xưng là Con một Chúa Cha, được Thánh Thần linh động, mạc khải cho chúng ta rằng Thiên Chúa không phải là một hữu thể đơn độc ngưng là tương quan, một sự hiệp thông tình yêu liên bản vị. Kitô giáo tin nơi một Thiên Chúa duy nhất và Ba Ngôi. Việc khàm phá này về mầu nhiệm thâm sâu của Thiên Chúa, mặc dầu vẫn không diễn tả được, nhưng cũng vẫn là một logic của mầu nhiệm tình yêu đòi hỏi tính hỗ tương, tương quan liên bản vị.

 Mạc khải kia hệ quả liên quan đến con người. Qủa thật, bao lâu con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi, thì theo bản chất, con người là một hữu thể tương quan: là yêu và được yêu mà thôi. Tương quan làm nên hữu thể của họ, căn tính của họ. Tất cả con người của họ như hướng về cùng đích này vốn là một sự viên mãn của tình yêu Thiên Chúa.

 Không phải dựa trên mạc khải này, được cuộc nhập thể Đức Kitô xác minh, mà nhiều Kitô hữu nghĩ rằng người ta không tìm thấy Thiên Chúa bằng cách “trốn vào sa mạc”, nhưng bằng cách chia sẻ thân phận con người trong những mối tương quan hàng ngày sao? Đối với họ, tình yêu thương, sự cởi mở và xả thân cho kẻ khác, là những nơi ưu việt, ở đó Thiên Chúa lên tiếng và tự mạc khải.

  Nhưng, dù không phải tất cả chúng ta được gọi sống đời ẩn sĩ, chúng ta củng phải nhận định ý nghĩa của sự thu hút hướng về nơi cô tịch, được biểu hiện từ thời đầu Kitô giáo trong truyền thống lớn đan tu, ở Phương Đông cũng như Phương Tây và hoa quả trong cuộc đời các thánh quá hiển nhiên khó có thể phủ nhận được. Sự cô tịch mà các nhà đại tu đức luôn luôn, đồng thanh, nhìn nhận vai trò quan trọng của nó trong việc cấu trúc con người.

 Nhưng chúng ta sẽ thấy, như chúng ta đã thoáng thấy, rằng vấn đề không được đặt ra theo lối đối lập mà là bổ sung cho nhau. Con người là một hữu thể cô đơn và cộng đoàn, cần cô tịch và tương quan để tìm được chính mình và tìm được Thiên Chúa.

 Một nhà văn như Sain-Exupéry đã hiểu rõ điều này vì chính ông ca ngợi tình bạn trong quyển “Citaolelle”. Và một cha De Foucauld, mất hút trong nơi tận cùng của sa mạc, luôn luôn coi mình như “tiểu đệ của mọi người”!

 Dĩ nhiên, chúng ta cũng sẽ thấy rằng cô tịch cũng như đời sống tương quan vẫn có những ảo tưởng và cạm bẫy của nó. Nhưng sự nhập nhằng bao giờ cũng từ con người mà đến. Rốt cuộc chúng ta sẽ khám phá đến mức nào, thì tiêu chuẩn độc nhất để nhận định rõ luôn luôn là phẩm chất của tình yêu đã sống. Những mối tương quan cũng như sự cô tịch cốt để phục vụ con người, và con người học biết yêu thương. “Nơi đâu có bác ái yêu thương , nơi đó có Thiên Chúa hiện diện”.

 Hai con đường, cô tịch và tương quan chỉ có thể vượt qua giới hạn nội tại của mình bằng cách đón nhận sự viên mãn của Thiên Chúa. Đới với một người có đức tin, thinh lặng trước hết không phải là một nơi chốn, nhưng là một phẩm chất của con tim và sự cô lập không bao giờ là sự cách biệt cũng không phải là sự thay đổi môi trường hoặc trốn tránh, nhưng là chú ý cách mới mẻ đến một sự hiện diện ở trong những nơi cô tịch của sa mạc cũng như những mối tương quan của con người.

Tác giả: Michel Hubaut

Bình Luận